6/7/11

Tổng quan thị trường Bảo hiểm Việt Nam 3 tháng đầu năm 2011

Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam tiếp tục phát triển, GDP tăng trưởng 5,5% xấp xỉ mức tăng trưởng cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu trong 3 tháng cũng tăng trưởng mạnh với mức tăng 31%. Lạm phát cũng ảnh hưởng nhiều đến tình hình kinh tế xã hội, chỉ số CPI lên tới 6,2%. Chủ trương của Chính phủ thắt chặt tín dụng và đầu tư công đã ít nhiều ảnh hưởng đến tăng trưởng của thị trường bảo hiểm: Lạm phát làm cho chi phí bồi thường gia tăng. Bộ tài chính đang triển khai QĐ 2011 và QĐ 315 của Chính phủ về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm nông nghiệp cũng như dự thảo NĐ – TT hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung luật kinh doanh bảo hiểm
 I.          Tình hình chung
Tình hình kinh tế xã hội Việt Nam tiếp tục phát triển, GDP tăng trưởng 5,5% xấp xỉ mức tăng trưởng cùng kỳ năm ngoái, xuất khẩu trong 3 tháng cũng tăng trưởng mạnh với mức tăng 31%. Lạm phát cũng ảnh hưởng nhiều đến tình hình kinh tế xã hội, chỉ số CPI lên tới 6,2%. Chủ trương của Chính phủ thắt chặt tín dụng và đầu tư công đã ít nhiều ảnh hưởng đến tăng trưởng của thị trường bảo hiểm: Lạm phát làm cho chi phí bồi thường gia tăng. Bộ tài chính đang triển khai QĐ 2011 và QĐ 315 của Chính phủ về bảo hiểm tín dụng xuất khẩu và bảo hiểm nông nghiệp cũng như dự thảo NĐ – TT hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi bổ sung luật kinh doanh bảo hiểm.
II.         Thị trường bảo hiểm Phi nhân thọ 
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đạt doanh thu 5.084 tỉ đồng tăng trưởng 28%, nhận tái bảo hiểm từ nước ngoài 100 tỉ đồng, tái bảo hiểm ra nước ngoài 1.186 tỉ đồng. Nhìn chung các nghiệp vụ đều tăng trưởng trong đó bảo hiểm tín dụng tăng trưởng 662%, bảo hiểm gián đoạn kinh doanh 159%,  bảo hiểm nông nghiệp 108%, hàng hóa vận chuyển 46,3%, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người 40,4%. Những thị trường mới, thị trường có nhiều tiềm năng nói trên đã được các DNBH chú ý khai thác để tăng trưởng.
Dẫn đầu là nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới doanh thu 1,598 tỉ đồng, bảo hiểm tài sản thiệt hại 1,107 tỉ đồng, bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người 671 tỉ đồng, bảo hiểm thân tàu và TNDS chủ tàu 625 tỉ đồng, bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro 419 tỉ đồng.
Dẫn đầu doanh thu khai thác bảo hiểm gốc là PVI 1.197 tỉ đồng, Bảo Việt 1.126 tỉ đồng, Bảo Minh 708 tỉ đồng, PJICO 407 tỉ đồng, PTI 230 tỉ đồng.
Năng lực bảo hiểm sau khi trừ tái bảo hiểm dẫn đầu là Bảo Việt 944 tỉ đồng, PVI 640 tỉ đồng, Bảo Minh 603 tỉ đồng, PJICO 393 tỉ đồng, PTI 202 tỉ đồng.
Các doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu cao là SVI 159%, Groupama 153%,  Fubon 112%, ACE 108%, PTI 96%, Hùng Vương 72%, BIC 66%.
Bồi thường toàn thị trường 1.420 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 27,9%, rủi ro cao vẫn là bảo hiểm con người, tỉ lệ bồi thường 42%, bảo hiểm xe cơ giới 38% còn các nghiệp vụ khác đều dưới 30%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao là Phú Hưng 105%, Liberty 53%, Bảo Long 50%, BIC 47%.
1.  Bảo hiểm xe cơ giới
Bảo hiểm xe cơ giới đạt doanh thu 1.598 tỉ đồng tăng trưởng 26,3%, bồi thường 607 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 38%. Dẫn đầu doanh thu là Bảo Việt 398 tỉ đồng, PJICO 222 tỉ đồng, Bảo Minh 198 tỉ đồng, PVI 155 tỉ đồng.
Tỉ lệ bồi thường có rủi ro cao là Phú Hưng 386%, Chartis 93,8%, ABIC 70,3%, Liberty 57,3%, PJICO 45,8%, Bảo Long 45%.
Bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới đạt doanh thu 389 tỉ đồng. Dẫn đầu là Bảo Việt 91 tỉ đồng, PJICO 75 tỉ đồng, Bảo Minh 54 tỉ đồng, số tiền bồi thường 118 tỉ đồng tỉ lệ bồi thường 30,4%, các DNBH có tỉ lệ bồi thường cao  MSIG 487%, Phú Hưng 217%, Bảo Việt 43%.
Hội đồng Quản lý Quỹ bảo hiểm xe cơ giới, Ban điều hành Quỹ đang triển khai kế hoạch sử dụng Quỹ bảo hiểm xe cơ giới năm 2011
·      Quyết định tài trợ xe cứu thương cho Sơn La với trị giá khoảng 664 triệu đồng. Tài trợ đầu tư công trình tại Hưng Yên khoảng 1,76 tỉ đồng, Công trình tại Bình Định khoảng 795 triệu đồng.
·      Bộ Tài chính giao nhiệm vụ cho Hội đồng Quản lý Quỹ làm chủ đầu tư dự án xây dựng cơ sở dữ liệu bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới, thành lập Ban quản lý dự án triển khai thuê tư vấn; Lập báo cáo khả thi; Lập thiết kế thi công – Tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu thi công dự án.
·     Tiếp tục kế hoạch phối hợp với Trung ương Đoàn, năm 2011 ký kết hợp đồng tuyên truyền về bảo hiểm bắt buộc TNDS trên Thời báo Tài chính, xây dựng kế hoạch phối hợp với Cục Cảnh sát giao thông tuyên truyền về bảo hiểm trên truyền hình Trung ương, Hưng Yên, Hải Dương và VOV giao thông.
2.  Bảo hiểm tài sản thiệt hại:
Bảo hiểm tài sản thiệt hại đạt doanh thu 1.107 tỉ đồng tăng trưởng 36% trong đó tái bảo hiểm trong nước 106 tỉ đồng, tái bảo hiểm nước ngoài 622 tỉ đồng, Bồi thường 182 tỉ đồng chiếm tỉ lệ 16,4%. Các doanh nghiệp doanh thu cao là PVI 709 tỉ đồng, Bảo Việt 156 tỉ đồng, Bảo Minh 152 tỉ đồng, PJICO 57 tỉ đồng, các DNBH có tỉ lệ bồi thường cao là Phú hưng 273%, PJICO 41%, ABIC 37% còn lại là dưới 30%.
3. Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người
Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người đạt doanh thu 671 tỉ đồng, tăng trưởng 40,4%. Dẫn đầu doanh thu Bảo Việt 245 tỉ đồng, Bảo Minh 126 tỉ đồng, PVI 71 tỉ đồng, PTI 35 tỉ đồng, PJICO 22 tỉ đồng, Chartis 16 tỉ đồng. Số tiền đã giải quyết bồi thường 282 tỉ đồng, chiếm tỉ lệ 42%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao Phú Hưng 136%, PJICO 63,4%, AAA 59,2%, Bảo Việt 54,3%, Bảo Long 53,2%, Fubon 51,5%. Nhiều doanh nghiệp đã chú trọng phát triển sản phẩm bảo hiểm mới có quyền lợi về chăm sóc y tế, thương tật, tử vong cao hơn hấp dẫn với đối tượng khách hàng có thu cao.
Tuy nhiên, hiện tượng trục lợi bảo hiểm vẫn xảy ra khi các DNBH chưa thể kiểm soát chặt chẽ khâu điều trị khi thanh toán bằng hóa đơn mua thuốc, viện phí điều trị kỹ thuật cao.
4.  Bảo hiểm thân tàu và TNDS chủ tàu
Bảo hiểm thân tàu và TNDS chủ tàu đạt doanh thu 626 tỉ đồng, tăng trưởng 14,3%, trong đó tái bảo hiểm trong nước 55 tỉ đồng, tái bảo hiểm nước ngoài 131 tỉ đồng, các DNBH dẫn đầu về doanh thu gồm PVI 175 tỉ đồng, Bảo Minh 162 tỉ đồng, Bảo Việt 149 tỉ đồng, PJICO 58 tỉ đồng, Toàn Cầu 19 tỉ đồng. Số tiền bồi thường toàn nghiệp vụ 147 tỉ đồng, chiếm 23,5%. Các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao Bảo Việt 50%, BIC 45%, PJICO 32%, còn lại dưới 30%. 
Bảo hiểm đóng tàu bị ảnh hưởng khi ngành công nghiệp tàu thủy đang bị chững lại. Mùa mưa bão đang đến sẽ có nhiều rủi ro tổn thất lớn xảy ra nhất là tàu pha sông biển, tàu cá, ngay cả khi đã đỗ an toàn ven biển vẫn bị bão lốc tàn phá.
5.  Bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro tài sản
Bảo hiểm cháy nổ và mọi rủi ro tài sản đạt doanh thu 419 tỉ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Dẫn đầu doanh thu gồm PVI 108 tỉ đồng, Bảo Minh 93 tỉ đồng, Bảo Việt 47 tỉ đồng. Số tiền giải quyết bồi thường 80 tỉ đồng, chiếm 19% doanh thu, các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao gồm: BIC 196%, UIC 56%, PJICO 46,9%, Bảo Việt 22% còn lại là dưới 20%. Bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đạt doanh thu 84 tỉ đồng, dẫn đầu là Bảo Việt 21 tỉ đồng, UIC 8 tỉ đồng, MSIG 7,8 tỉ đồng, Fubon 7,7 tỉ đồng, BV Tokyo marine 6 tỉ đồng. Bồi thường toàn thị trường 13 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 15,3%. DNBH có tỉ lệ bồi thường cao UIC 124%, BIC 25% còn lại là dưới 20%.
6.    Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển
Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đạt doanh thu 386 tỉ đồng, tăng 46,3% chứng tỏ xuất nhập khẩu hàng hóa đang trên đà khôi phục và phát triển, tái bảo hiểm trong nước đạt 45 tỉ đồng, tái bảo hiểm ra nước ngoài 84 tỉ đồng, tỉ lệ tái bảo hiểm ra nước ngoài 21,8%. Các DNBH có doanh thu cao Bảo Việt 87 tỉ đồng, PVI 46 tỉ đồng, PJICO 44 tỉ đồng, SVI 38 tỉ đồng, Bảo Minh 32 tỉ đồng,. Tỉ lệ bồi thường chiếm 20% tương đương 77 tỉ đồng. Các doanh nghiệp có tỉ lệ bồi thường cao gồm Bảo Long 155%, Hùng Vương 47%, BV Tokyo marine 32% còn lại dưới 30%. 
Hiệp hội đã tiếp tục ký hợp đồng thuê mạng tra cứu tàu biển với tổ chức Lloyd’MIU cho 7 doanh nghiệp tham gia để kiểm tra thông tin cũng như lịch sử tàu trước khi kí kết hợp đồng hàng hóa vận chuyển.
7.   Các sản phẩm bảo hiểm khác
Bảo hiểm hàng không đạt doanh thu 147 tỉ đồng, tăng 41,6%, bồi thường 32 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 22,4%,
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh đạt doanh thu 15 tỉ đồng (tăng 159%), bồi thường 6 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 24%,
Bảo hiểm trách nhiệm chung đạt doanh thu 110 tỉ đồng (tăng 16,3%), bồi thường 7 tỉ đồng, tỉ lệ bồi thường 6,7%,
Nhìn chung, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ vẫn tiếp tục cạnh tranh gay gắt. Cạnh tranh bằng hạ phí mở rộng điều khoản điều kiện bảo hiểm để giành giật khách không tương xứng với rủi ro chấp nhận bảo hiểm đã làm cho nhiều DNBH nhiều năm liên tục thua lỗ về kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm.
Hiệp hội chủ trương đang triển khai:
-          Chương trình hội thảo về nghiệp vụ bảo hiểm Tài sản, Hàng hải và Xe cơ giới,,
-          Chương trình xây dựng hệ thống thông tin quản lý rủi ro đối với khách hàng, đối tượng bảo hiểm có rủi ro cao: không nộp đủ phí, đã từng trục lợi bảo hiểm, có số lần tổn that hoặc số tiền bồi thường cao trong thời gian qua,
-          Chương trình xây dựng biểu phí sàn để khuyến cáo các DNBH,
-          Vận động và chuẩn bị điều kiện thành lập Hiệp hội bảo hiểm địa phương tại TP trực thuộc Trung ương.

II.         Thị trường bảo hiểm nhân thọ
Lạm phát gia tăng gây ảnh hưởng tiêu cực tới thị trường bảo hiểm nhân thọ, ảnh hưởng trực tiếp tới nhu cầu về bảo hiểm của người dân cũng như khả năng duy trì hợp đồng bảo hiểm. Thêm vào đó, sự gia tăng của giá vàng và ngoại tệ đã có tác động tâm lý tới người tham gia bảo hiểm. Mặt khác, cũng như mọi năm tình hình khai thác bảo hiểm nhân thọ trong quý I thường thấp so với các quý khác trong năm do dư âm của Tết nguyên đán.
1. Số lượng hợp đồng bảo hiểm:
Số lượng hợp đồng khai thác mới trong 03 tháng đầu năm 2011 đạt 153.629 hợp đồng (sản phẩm chính), tăng 4% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó, Prudential khai thác được 61.443 hợp đồng, Bảo Việt Nhân thọ là 26.662 hợp đồng, AIA là 14.039 hợp đồng. Mức tăng 4% về số lượng hợp đồng khai thác mới so với cùng kỳ năm trước chủ yếu là do sự tăng trưởng của sản phẩm đầu tư (trong đó chủ lực là dòng sản phẩm UL), hầu hết trong quý I/2011 các dòng sản phẩm bảo hiểm trên phương diện số lượng hợp đồng khai thác mới đều giảm như sản phẩm trọn đời giảm 34%, sản phẩm tử kỳ giảm 2%, sản phẩm hỗn hợp giảm 12%, sản phẩm trả tiền định kỳ giảm 30%.
Số lượng hợp đồng khôi phục hiệu lực (sản phẩm chính) trong 3 tháng đầu năm là 20.761 hợp đồng tăng 17% so với cùng kỳ năm ngoái. Các doanh nghiệp có số lượng hợp đồng khôi phục cao là Prudential: 18.610 hợp đồng và Dai-ichi là 1.088 hợp đồng.
Số lượng hợp đồng hết hiệu lực trong kỳ là 160.158 hợp đồng tăng 11% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp có số hợp đồng hết hiệu lực nhiều trên thị trường là Prudential với 70.730 hợp đồng, Bảo Việt Nhân thọ là 35.431 hợp đồng, Manulife là 23.180 hợp đồng
Tổng số lượng hợp đồng có hiệu lực cuối kỳ là 4.256.716 hợp đồng, tăng 6% so với cùng kỳ năm ngoái. Các doanh nghiệp có số lượng hợp đồng có hiệu lực lớn là Prudential 1.817.765 hợp đồng, Bảo Việt Nhân thọ là 1.364.177 hợp đồng, Manulife là 333.309 hợp đồng.

2. Số tiền bảo hiểm:
Tổng mức trách nhiệm mà các DNBH Nhân thọ đang nắm giữ là 390,97 nghìn tỉ đồng tăng 27% so với cùng kỳ năm ngoái trong đó mức trách nhiệm của các sản phẩm chính đạt 273,8 nghìn tỉ đồng tăng 31%, mức trách nhiệm của các sản phẩm phụ đạt 117,2 nghìn tỉ đồng tăng 15%.
Đi cùng với việc tăng về số lượng khai thác mới của các sản phẩm bảo hiểm đầu tư, tổng mức trách nhiệm các DNBH nhân thọ cam kết trả cho dòng sản phẩm này cũng tăng 53% so với 3 tháng của cùng kỳ năm trước.
Các doanh nghiệp có tổng mức trách nhiệm cao trên thị trường bảo hiểm là: Prudential 122 ngàn tỉ, Bảo Việt Nhân thọ là 75 ngàn tỉ, ACE Life là 56 ngàn tỉ đồng và AIA là 54 ngàn tỉ đồng.
3. Phí bảo hiểm:
Phí bảo hiểm định kỳ năm đầu trong 3 tháng đầu năm 2011 đạt 830,7 tỉ đồng tăng 27% so với cùng kỳ năm trước, phí bảo hiểm đóng một lần là 8,8 tỉ đồng giảm 4,5%. Tổng phí khai thác mới trong 3 tháng đầu năm đạt 839,6 tỉ đồng tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước. Dẫn đầu về phí bảo hiểm khai thác mới là Prudential với 259 tỉ đồng, Bảo Việt Nhân thọ là 205 tỉ đồng và Manulife là 100 tỉ đồng.
Tổng phí bảo hiểm toàn thị trường là 3.257 tỉ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp có thị phần lớn trên thị trường là: Prudential với 1.250 tỉ đồng chiếm 38,4% thị phần, Bảo Việt Nhân thọ với 979 tỉ đồng chiếm 30,1% thị phần, Manulife với 373 tỉ đồng, chiếm 11,4% thị phần.
4.  Trả tiền bảo hiểm:
Trong 3 tháng đầu năm 2011, tổng số trả tiền bảo hiểm đạt 1.213 tỉ đồng
Tổng số chi trả quyền lợi bảo hiểm là 688 tỉ đồng, tăng 67%, trong đó Prudential với 359 tỉ đồng, Bảo Việt là 158 tỉ đồng, Manulife với 77 tỉ đồng.
Tổng số trả giá trị hoàn lại là 355 tỉ đồng, Prudential là doanh nghiệp có giá trị hoàn lại cao nhất thị trường với 192 tỉ đồng, Manulife 54 tỉ đồng  tiếp theo là Bảo Việt Nhân thọ là 45 tỉ đồng.
5. Số lượng đại lý bảo hiểm.
Tính đến hết tháng 3 tháng năm 2011, tổng số lượng đại lý có mặt trên thị trường là 166.690 người tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp có số lượng đại lý cao nhất là Prudential 85.157 người, Bảo Việt Nhân thọ là 21.618 người, AIA 14.668 người.
Số lượng đại lý mới tuyển dụng trong 3 tháng đầu năm 2011 là 25.292 người tăng 29,5% so với cùng kỳ năm ngoái, các doanh nghiệp bảo hiểm có số lượng đại lý mới tuyển dụng nhiều nhất thị trường theo thứ tự là: Prudential (8.590 đại lý), AIA (3.391 đại lý) và Bảo Việt Nhân thọ (3.015 đại lý).

5/7/11

Vi phạm hành chính trong lĩnh vực KDBH - Hành vi và hình phạt áp dụng

Nhằm xây dựng thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh, toàn diện và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia thị trường một cách bình đẳng và hợp pháp, Chính phủ đã ban hành Nghị định 41/2009/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 22 tháng 6 năm 2009 và thay thế Nghị định 118/2003/NĐ-CP ban hành ngày 13 tháng 10 năm 2003 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Theo quy định mới này, thì các hành vi sau của cá nhân, tổ chức có thể bị xử phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng và bị áp dụng hình phạt bổ sung như tịch thu toàn bộ các khoản thu từ việc thực hiện các hành vi vi phạm hành chính mà có; tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính; thu hồi hoặc tước quyền sử dụng giấy phép thành lập và hoạt động có thời hạn một phần hoặc toàn bộ nội dung phạm vi hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Theo đó, 

Những hành vi vi phạm hành chính nào có thể bị xử phạt?
1.              Sửa chữa, gian dối hoặc giả mạo các tài liệu trong hồ sơ xin cấp phép.
2.              Sửa chữa, gian dối hoặc giả mạo các tài liệu trong hồ sơ xin mở Văn phòng đại diện.
3.        Không thực hiện đăng trên 5 số báo hàng ngày liên tiếp của báo Trung ương và báo địa phương. Không công bố, công bố không đúng thời hạn hoặc công bố sai sự thật một trong những nội dung hoạt động và thay đổi đã được Bộ Tài chính chấp thuận. Không công bố các nội dung quy định tại Giấy phép đặt Văn phòng đại diện. Không hoạt động sau 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động. Hành vi sửa chữa giấy phép. Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh môi giới bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm không có Giấy phép thành lập và hoạt động. Hoạt động, kinh doanh khi đã bị thu hồi hoặc tước quyền sử dụng Giấy phép. Hoạt động khi giấy phép đã hết thời hạn.
4.        Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, mua lại, chuyển đổi hình thức, giải thể doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không theo đúng trình tự thủ tục quy định.
5.        Bổ nhiệm Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc làm việc cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm khác. Bổ nhiệm Tổng giám đốc làm thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp bảo hiểm khác hoạt động trong cùng lĩnh vực mà không phải doanh nghiệp trực thuộc. Bổ nhiệm thành viên Hội đồng quản trị làm thành viên Hội đồng quản trị của doanh nghiệp bảo hiểm khác hoạt động trong cùng lĩnh vực. Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc chi nhánh, Trưởng Văn phòng đại diện, Kế toán trưởng, Trưởng ban kiểm soát được bổ nhiệm nhưng không cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm. Bổ nhiệm các Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Giám đốc Chi nhánh, Trưởng Văn phòng đại diện, Trưởng Ban Kiểm soát, người đứng đầu các bộ phận không đáp ứng được các tiêu chuẩn theo quy định. Không ban hành quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Quy trình kiểm tra, kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp bảo hiểm không đáp ứng được các nội dung theo quy định của pháp luật. Bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc không đáp ứng được các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Không bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc theo quy định của pháp luật. Thay đổi Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc khi chưa có sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính.
6.        Không bổ nhiệm chuyên gia tính toán theo quy định của pháp luật. Không tuân thủ thủ tục thay đổi chuyên gia tính toán. Chuyên gia tính phí không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ một trong các nhiệm vụ được quy định tại Khoản 2, Điều 11 của Nghị định này.
7.        Sửa chữa, gian dối hoặc giả mạo các tài liệu trong hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện. Đổi tên, địa điểm đặt trụ sở chính, Chi nhánh, Văn phòng đại diện mà chưa được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản. Thay đổi một trong những nội dung sau đây mà chưa được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản: mức vốn điều lệ; nội dung, phạm vi và thời gian hoạt động; mở hoặc chấm dứt hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện; chuyển nhượng cổ phần, phần góp vốn chiếm 10% số vốn điều lệ trở lên.
8.        Không phê chuẩn chương trình tái bảo hiểm. Không ban hành hoặc ban hành quy trình, hướng dẫn nội bộ về hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm không đáp ứng quy định của pháp luật. Không thực hiện việc tái bảo hiểm theo chương trình tái bảo hiểm và quy trình, hướng dẫn nội bộ. Nhượng tái bảo hiểm không đúng quy định của pháp luật. Giữ lại mức trách nhiệm tối đa trên mỗi rủi ro hoặc trên mỗi tổn thất riêng lẻ quá 10% vốn chủ sở hữu. Nhận tái bảo hiểm đối với chính những rủi ro đã nhượng tái bảo hiểm; nhượng toàn bộ trách nhiệm bảo hiểm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm. Nhà tái bảo hiểm không nằm trong danh sách doanh nghiệp dự kiến sẽ nhượng tái bảo hiểm. Nhượng tái bảo hiểm cho doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm ở nước ngoài không xếp hạng tối thiểu “BBB” theo Standard & Poor’s, “B++” theo A.M.Best, “Baa” theo Moody’s hoặc các kết quả xếp hạng tương đương tại năm tài chính gần nhất so với thời điểm giao kết hợp đồng tái bảo hiểm.
9.        Tiến hành việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm không đáp ứng đầy đủ các điều kiện và thủ tục chuyển giao theo quy định tại Điều 75 và Điều 76 của Luật Kinh doanh bảo hiểm.
10.     Giải quyết bồi thường cho khách hàng chậm so với thời hạn quy định của pháp luật. Yêu cầu người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm trả thù lao, hay các quyền lợi vật chất khác trái pháp luật. Thông đồng với người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để giải quyết bồi thường bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm trái pháp luật. Tổ chức, cá nhân đã nhận tiền bồi thường, trả tiền bảo hiểm do có hành vi gian dối, giả mạo các tài liệu trong hồ sơ yêu cầu bồi thường, trả tiền bảo hiểm.
11.     Thông tin quảng cáo sai sự thật về nội dung, phạm vi hoạt động, điều kiện bảo hiểm. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh. Thông tin làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp bảo hiểm khác. Thoả thuận hạn chế cạnh tranh gây thiệt hại cho quyền lợi của bên mua bảo hiểm. Tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa nhân viên hoặc khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm khác.
12.     Không công khai và minh bạch trong bán hàng làm cho khách hàng hiểu sai về sản phẩm, dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp. Phân biệt đối xử về điều kiện bảo hiểm và mức phí bảo hiểm giữa các đối tượng bảo hiểm có cùng mức độ rủi ro. Không thực hiện đấu thầu việc mua, bán bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và chủ đầu tư có vốn góp từ 20% vốn điều lệ trở lên của chính doanh nghiệp bảo hiểm đó hoặc đồng bảo hiểm với các doanh nghiệp bảo hiểm khác. Tranh thủ uy tín, ảnh hưởng của cơ quan chủ quản cấp trên, chủ đầu tư để cung cấp dịch vụ bảo hiểm, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của bên mua bảo hiểm. Can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm. Dùng ảnh hưởng của mình để yêu cầu, ngăn cản hoặc ép buộc đơn vị cấp dưới hoặc những người có liên quan phải tham gia bảo hiểm tại một doanh nghiệp bảo hiểm dưới mọi hình thức.
13.     Tài liệu giới thiệu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp không rõ ràng, khó hiểu và chứa đựng thông tin dẫn đến hiểu lầm. Tài liệu minh hoạ bán hàng không rõ ràng, đầy đủ và chính xác để giúp khách hàng có sự lựa chọn phù hợp. Tài liệu minh hoạ bán hàng của doanh nghiệp không phân biệt rõ giữa quyền lợi có đảm bảo và quyền lợi không bảo đảm; không thông báo cho khách hàng biết tổng số quyền lợi bảo hiểm nhận được theo các hợp đồng bảo hiểm không bảo đảm có thể khác nhau. Hàng năm không xem xét lại các giả định dùng trong minh hoạ bán hàng; không sửa lại minh họa bán hàng nếu giả định không còn phù hợp với thực tế. Tài liệu giới thiệu sản phẩm, dịch vụ, tài liệu minh hoạ bán hàng chứa đựng thông tin về quyền lợi bảo hiểm trái quy tắc, điều khoản bảo hiểm đã được Bộ Tài chính phê chuẩn. Không cung cấp đầy đủ thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm, không giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng bảo hiểm. Không thực hiện thông báo cho bên mua bảo hiểm về tình trạng hợp đồng của họ theo quy định. Yêu cầu giao kết hợp đồng bảo hiểm bổ trợ kèm theo hợp đồng bảo hiểm chính là điều kiện bắt buộc để duy trì hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm chính. Vi phạm các quy định về triển khai các sản phẩm bảo hiểm thuộc nghiệp vụ bảo hiểm liên kết đầu tư.
14.     Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ không báo cáo hoặc báo cáo không đúng quy định danh sách các sản phẩm bảo hiểm mới được triển khai trong tháng trước liền kề. Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ thực hiện một trong những hành vi vi phạm sau: không tuân thủ quy tắc, điều khoản, biểu phí đã được Bộ Tài chính phê chuẩn; sửa đổi, bổ sung quy tắc, điều khoản, biểu phí khi chưa được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Tài chính. Trả hoa hồng bảo hiểm cao hơn tỷ lệ, trả hoa hồng bảo hiểm không đúng đối tượng hoặc nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.
15.     Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được kinh doanh bảo hiểm bắt buộc từ chối bán bảo hiểm bắt buộc cho cá nhân, tổ chức. Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được kinh doanh bảo hiểm bắt buộc không tuân thủ quy tắc, điều khoản, biểu phí do Bộ Tài chính ban hành. Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được kinh doanh bảo hiểm bắt buộc không tách riêng phần bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc trong trường hợp bảo hiểm trọn gói theo quy định.
16.     Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không thực hiện nghĩa vụ mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghịêp cho hoạt động môi giới bảo hiểm.
17.     Ngăn cản bên mua bảo hiểm cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hoặc xúi giục bên mua bảo hiểm không kê khai các chi tiết liên quan đến hợp đồng bảo hiểm. Khuyến mại khách hàng dưới hình thức hứa hẹn cung cấp các quyền lợi bất hợp pháp để xúi giục khách hàng giao kết hợp đồng bảo hiểm. Xúi giục bên mua bảo hiểm huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hiện có để mua hợp đồng bảo hiểm mới. Tư vấn cho khách hàng mua bảo hiểm tại một doanh nghiệp bảo hiểm với các điều kiện, điều khoản kém cạnh tranh hơn so với doanh nghiệp bảo hiểm khác nhằm thu được hoa hồng. Tư vấn, giới thiệu cho bên mua bảo hiểm quy tắc, điều khoản thuộc nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ chưa được Bộ Tài chính phê chuẩn; quy tắc, điều khoản thuộc nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc không đúng với quy tắc điều khoản do Bộ Tài chính ban hành hoặc các quy tắc điều khoản không phù hợp với khoản 4 Điều 20 Nghị định 45/2007/NĐ-CP ngày 27 tháng 3 năm 2007 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm sử dụng cộng tác viên hoặc bất kỳ hình thức nào khác để thay mặt doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thực hiện một hoặc tất cả các công đoạn của quá trình môi giới bảo hiểm gốc hoặc môi giới tái bảo hiểm.
18.     Đại lý bảo hiểm đồng thời làm đại lý cho doanh nghiệp bảo hiểm khác nhưng chưa được sự đồng ý bằng văn bản của doanh nghiệp bảo hiểm mà mình đang làm đại lý. Thông tin, quảng cáo về nội dung, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, điều kiện và điều khoản bảo hiểm sai sự thật làm tổn hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của bên mua bảo hiểm. Ngăn cản bên mua bảo hiểm cung cấp các thông tin liên quan đến hợp đồng bảo hiểm hoặc xúi giục bên mua bảo hiểm không kê khai các chi tiết liên quan đến hợp đồng bảo hiểm. Tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm khác. Hứa hẹn giảm phí bảo hiểm, hoàn phí bảo hiểm hoặc các quyền lợi khác mà doanh nghiệp bảo hiểm không cam kết với khách hàng. Xúi giục bên mua bảo hiểm huỷ bỏ hợp đồng bảo hiểm hiện có để mua hợp đồng bảo hiểm mới. Đào tạo đại lý bảo hiểm để cấp chứng chỉ hành nghề khi chưa được sự đồng ý bằng văn bản của Bộ Tài chính. Không tuân thủ thời lượng tối thiểu, nội dung chương trình đào tạo đại lý đã được Bộ Tài chính phê chuẩn. Không thực hiện báo cáo Bộ Tài chính về số lượng khoá đào tạo đã tổ chức, số lượng đại lý bảo hiểm đã đào tạo, số lượng chứng chỉ đã cấp trong năm theo mẫu quy định của Bộ Tài chính. Không thực hiện báo cáo Bộ Tài chính và thông báo cho Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam danh sách các đại lý bảo hiểm đang hoạt động và danh sách các đại lý vi phạm quy chế hành nghề đại lý hoặc vi phạm pháp luật đã bị doanh nghiệp chấm dứt hợp đồng đại lý. Sử dụng tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động đại lý bảo hiểm mà không đảm bảo các điều kiện quy định tại Điều 84 và Điều 86 của Luật Kinh doanh bảo hiểm.
19.     Không nộp báo cáo định kỳ theo quy định. Thay đổi tên gọi, quốc tịch, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm. Thay đổi địa điểm đặt trụ sở Văn phòng đại diện; trưởng đại diện; tăng, giảm số người làm việc tại Văn phòng đại diện nhưng không thông báo bằng văn bản cho Bộ Tài chính. Thay đổi nội dung hoạt động của Văn phòng đại diện chưa được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính.
20.     Không duy trì mức vốn điều lệ góp tối thiểu bằng mức vốn pháp định. Không đảm bảo vốn điều lệ đã góp tương xứng với nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động. Một cổ đông là cá nhân sở hữu vượt quá 10% vốn điều lệ. Một cổ đông là tổ chức sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ. Cổ đông và người có liên quan của cổ đông đó sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ. Các cổ đông sáng lập sở hữu dưới 50% vốn điều lệ trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày doanh nghiệp được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động.
21.     Không nộp hoặc sử dụng tiền ký quỹ trái với quy định.
22.     Không đăng ký phương pháp trích lập dự phòng nghiệp vụ với Bộ Tài chính. Không trích lập hoặc trích lập không đủ dự trữ bắt buộc, sử dụng quỹ dự trữ bắt buộc không đúng quy định. Không trích lập hoặc trích lập không đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định. Không tuân thủ phương pháp và cơ sở trích lập dự phòng nghiệp vụ đã đăng ký với Bộ Tài chính. Sử dụng quỹ dự phòng nghiệp vụ không đúng quy định.
23.     Không hạch toán tách biệt các khoản đầu tư vốn từ nguồn vốn chủ sở hữu và đầu tư từ dự phòng nghiệp vụ. Đầu tư ngoài các nguồn vốn được phép đầu tư theo quy định tại Điều 11 Nghị định số 46/2007/NĐ-CP. Sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu tương ứng với mức vốn pháp định của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm để đầu tư dưới hình thức là các khoản cho vay, đầu tư trở lại cho các cổ đông hoặc người có liên quan. Sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu tương ứng với biên khả năng thanh toán tối thiểu của doanh nghiệp bảo hiểm để đầu tư dưới hình thức là các khoản cho vay, đầu tư trở lại cho các cổ đông hoặc người có liên quan. Đầu tư vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ vượt quá tỷ lệ được phép đầu tư vào các lĩnh vực. Sử dụng nguồn vốn dự phòng nghiệp vụ để đầu tư ra nước ngoài. Đầu tư ra nước ngoài không thực hiện dưới tên của doanh nghiệp đó và chưa được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản.
24.     Không thực hiện các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán khi doanh nghiệp có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Không báo cáo kịp thời với Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán. Không tuân thủ yêu cầu của Bộ Tài chính về việc khôi phục khả năng thanh toán. Không thực hiện đúng phương án khôi phục khả năng thanh toán, củng cố tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp đã được Bộ Tài chính chấp thuận.
25.     Không báo cáo tách quỹ đúng thời hạn quy định. Không thực hiện tách Quỹ chủ sở hữu và Quỹ chủ hợp đồng theo quy định. Không tuân thủ phương pháp chia lãi đã được Bộ Tài chính chấp thuận hoặc thay đổi phương pháp chia lãi mà không có sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính.
26.     Vi phạm quy định trong lĩnh vực kế toán của doanh nghiệp bảo hiểm, môi giới bảo hiểm và tái bảo hiểm
27.     Nộp báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ, báo cáo bổ sung không đúng thời hạn quy định. Thông tin trong báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ, báo cáo bổ sung không đầy đủ, không chính xác.
28.     Trì hoãn, lẩn tránh, hoặc không cung cấp tài liệu, số liệu theo yêu cầu của cơ quan thanh tra, đoàn thanh tra, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thanh tra, kiểm tra, giám sát; hoặc có thủ đoạn đối phó với thanh tra viên, cán bộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đang thi hành nhiệm vụ. Không chấp hành quyết định xử lý của cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm tra. Can thiệp vào việc xử lý của cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm tra. Giấu giếm, sửa chữa chứng từ, sổ sách hoặc thay đổi tang vật trong khi đang bị thanh tra, kiểm tra. Tự ý tháo bỏ, di chuyển hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng niêm phong kho, quỹ, sổ sách, chứng từ kế toán, hồ sơ bảo hiểm hoặc các tang vật đang bị niêm phong, tạm giữ.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính quy định như thế nào?
Theo quy định tại Điều 3 của Nghị định này thì thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm là 2 năm, kể từ ngày cá nhân hoặc tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Nếu quá thời hạn trên thì không bị xử phạt nhưng vẫn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại điểm a và điểm d, khoản 3, Điều 12 của Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính và khoản 3, Điều 5 của Nghị định này.
Ai có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm?
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi thẩm quyền của mình quy định tại Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính có quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm;
Chánh thanh tra chuyên ngành bảo hiểm thuộc Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm – Bộ Tài chính có quyền phạt tiền tới mức 70.000.000 đồng, áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và biện pháp khắc phục hậu quả theo Nghị định 41/2009/NĐ-CP.
Thông tin xử phạt được công bố không khai ở đâu?
Theo quy định tại Điều 38 của Nghị định 41/2009/NĐ-CP thì quyết định xử phạt hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được công bố công khai trên Website của Bộ Tài chính, trang thông tin Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và báo cáo thường niên thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Trên đây là tóm tắt các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm được quy định cụ thể tại Nghị định 41/2009/NĐ-CP, do vậy chúng tôi mong rằng các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh bao hiểm tiếp cận và nghiên cứu kỹ các quy định trên đây, đồng thời đối chiếu với hoạt động của công ty đảm bảo tuân thủ các quy định này, hơn nữa tạo điều kiện đào tạo và khuyến nghị nhân viên để họ có nhận thức tốt nhất đối với các quy định pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và các quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm nói riêng. Trong quá trình thực hiện, nếu có bất kỳ thắc mắc hay câu hỏi gì, xin quý bạn đọc đừng ngại gửi tới webbaohiem.net.