15/7/14

CHI PHÍ CỦA LUẬT ĐẢM BẢO KHẢ NĂNG THANH TOÁN II (SOLVENCY II) LÀ “HỢP LÝ”?

Theo kết quả một khảo sát do Grant Thornton Anh quốc tiến hành mới đây trong ngành bảo hiểm, chỉ có 6% số người được hỏi cho rằng chi phí của Luật Đảm bảo khả năng thanh toán II (Solvency II) là “hợp lý”. Trong khi đó, hơn 3/4 (76%) số người đánh giá khoản chi phí này là không phù hợp và gần 2/3 số người (65%) tin rằng giá trị gia tăng mà Solvency II đem lại không tương xứng với chi phí phải bỏ ra.
Solvency II là dự thảo luật mới của Liên minh châu Âu (EU) thay thế cho Solvency I. Theo dự thảo, mức vốn yêu cầu đối với các doanh nghiệp bảo hiểm phải tương ứng với những rủi ro thể hiện trên sổ sách của doanh nghiệp nhằm bảo vệ khách hàng tốt hơn trong trường hợp doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính. Solvency II sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.
77 quản trị viên cao cấp tại các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm sức khỏe tại Anh quốc đã tham gia cuộc khảo sát của Grant Thornton. Kết quả là đại đa số người được hỏi đều bày tỏ sự quan ngại tới việc thực thi dự luật này.
Có tới 77% số người được phỏng vấn tin rằng Solvency II sẽ tận dụng hết các nguồn lực quan trọng mà nếu dành cho các lĩnh vực khác sẽ đem lại lợi ích lớn hơn; 66% số người cảm thấy quá trình chuẩn bị cho dự luật này gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của các nhà quản lý cấp cao.
So với lần khảo sát năm 2012 cũng do Grant Thornton tiến hành, kết quả khảo sát lần này cho thấy tỷ lệ số người nhận định “Solvency II là phương thức tiến hành kinh doanh phù hợp nhất” đã tăng từ 1/4 (năm 2012) lên 1/3 (năm 2014) trên tổng số người tham gia phỏng vấn. Đồng thời, số ý kiến cho rằng Solvency II là một “sự khó chịu cần thiết” cũng tăng từ 27% (năm 2012) lên 44% (năm 2014).
Theo ông Simon Sheaf, Giám đốc Định phí và Rủi ro của Grant Thornton Anh quốc: “Các doanh nghiệp trong ngành bảo hiểm ngày càng coi dự luật này là ‘sự khó chịu cần thiết’ buộc phải chấp nhận. Tuy nhiên, rõ rang rằng họ không nhận thấy những lợi ích do Solvency II đem lại là hoàn toàn đủ lớn để bù đắp cho các chi phí bỏ ra. Đến nay, khối lượng công việc đã thực hiện và những nguồn lực đã tiêu dung cho việc chuẩn bị triển khai dự luật này thật đáng kinh ngạc. Đồng thời qua quá trình đó, các doanh nghiệp bảo hiểm đã có được những nguồn dự phòng đáng kể cho hoạt động kinh doanh của mình”.
Những vướng mắc đáng kể nhất đối với thị trường bảo hiểm trong việc triển khai Solvency II vẫn không thay đổi so với kết quả khảo sát năm 2012, đó là sự không rõ rang trong các yêu cầu của dự luật và sự thiếu hụt các nguồn lực. Những người tham dự phỏng vấn cũng chỉ ra các trở ngại khác như: các vấn đề về mặt dữ liệu, việc không hiểu về các quy định mới cũng như thiếu sự tham gia nhiệt tình của HĐQT doanh nghiệp.
Mặc dù phần lớn số người được hỏi (94%) đồng ý với các nguyên tắc của Solvency II, song có tới 3/4 (74%) số ý kiến cho rằng các nguyên tắc này đã bị phá vỡ trong quá trình triển khai.
Ông Simon bổ sung: “Trước đây, các nguyên tắc của Solvency II đã từng nhận được sự ủng hộ rộng rãi của các doanh nghiệp bảo hiểm. Tuy nhiên, sự không rõ rang về thời hạn triển khai cũng như các yêu cầu của dự luật đang khiến cho việc “nuốt” viên thuốc này ngày càng trở nên “đắng” hơn. Hoạt động kinh doanh cần dựa trên sự chắc chắn, và mặc dù bảo hiểm là ngành kinh doanh rủi ro song các doanh nghiệp trong ngành vẫn cảm thấy họ đang phải chịu một gánh nặng không cần thiết từ sự phức tạp của Solvency II”.
Về thời hạn triển khai, phần lớn số người được hỏi đều lạc quan về mốc 01/01/2016 với 76% số người đồng ý rằng đó sẽ là thời điểm dự luật đi vào cuộc sống, và 98% số người cho rằng doanh nghiệp của mình cần chuẩn bị tốt cho thời điểm này. Dẫu vậy, gần 2/5 (39%) số ý kiến tin rằng chỉ có không tới 70% số doanh nghiệp bảo hiểm có thể thực hiện được điều đó.
Thu Phương (theo Acturialpost)

8/7/14

LOẠN BẢO HIỂM XE MÁY VẪN CHƯA DỨT!

(ĐTCK) Kết quả đợt kiểm tra của Cục Quản lý và giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam tại các điểm bán bảo hiểm mô tô, xe máy phía Nam mới đây cho thấy, tình trạng lộn xộn trong khai thác bảo hiểm xe máy vẫn tái diễn.

Vẫn loạn giá phí
Qua kiểm tra các điểm bán bảo hiểm mô tô, xe máy tại TP. HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ và Đà Nẵng, đoàn kiểm tra phát hiện, nhiều đại lý bảo hiểm chỉ thu phí bảo hiểm 35.000 - 40.000 đồng/xe máy/năm (đã bao gồm VAT) và trên Giấy chứng nhận bảo hiểm vẫn ghi mức phí là 66.000 đồng, không phân biệt dung tích của xe. Thậm chí, có đại lý còn bán bảo hiểm cho 2 năm liên tục trên một giấy chứng nhận bảo hiểm. Trong khi, theo quy định hiện hành, mức phí bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe mô tô 2 bánh có dung tích dưới 50cc là 55.000 đồng/xe/năm, xe có dung tích trên 50cc là 66.000 đồng/xe/năm (bao gồm cả VAT), không được khuyến mãi dưới mọi hình thức.
Thực ra, việc phát hiện vi phạm trong bán bảo hiểm xe máy không còn là câu chuyện mới. Trước đó, cơ quan quản lý thị trường bảo hiểm từng vào cuộc xử lý không ít vụ việc. Vậy nhưng, tình trạng này vẫn diễn ra rất phổ biến.
Khá nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên đã được các chuyên gia trong ngành mổ xẻ. Trong đó, nguyên nhân chính vẫn là việc xử lý còn chưa đủ mức độ răn đe; do chưa làm rõ mức độ ảnh hưởng quyền lợi của khách hàng cũng như người bán trong trường hợp tham rẻ; do việc chạy theo doanh thu của các đại lý, của doanh nghiệp bảo hiểm.
Giành khách ngay trong “nhà”
Không chỉ tái diễn tình trạng loạn giá bán bảo hiểm, mà theo một chuyên viên khai thác bảo hiểm xe máy tiết lộ, việc cạnh tranh giành khách hàng cũng diễn ra khá lộn xộn. Cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp cung cấp sản phẩm này với nhau, mà diễn ra ngay trong nội bộ doanh nghiệp.
Theo chuyên viên này, do mỗi hợp đồng bán bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe máy chỉ có doanh thu vài chục ngàn đồng, nên mỗi tháng phải vất vả lắm mới đạt được định mức doanh thu 66 triệu đồng (tương đương 1.000 đơn bảo hiểm). Và chỉ khi đạt được định mức doanh thu này, chuyên viên mới được hưởng nguyên lương. Đó là chưa kể những trường hợp cán bộ nhân viên bảo hiểm khi khai thác bảo hiểm phải thỏa thuận ngầm trả lại cho bên thứ ba một khoản tiền nhất định như là hoa hồng bảo hiểm, nên thực tế, tiền lương nhận được không đáng là bao.
Trong nhiều cuộc hội nghị ngành, các thành viên thị trường cùng thống nhất quan điểm nói “không” với chạy đua doanh thu bằng mọi giá thông qua quyết tâm chú trọng tăng hiệu quả hoạt động, chất lượng dịch vụ. Nhưng thực tế cho thấy, điều này không dễ thực hiện. Nhân viên bảo hiểm “chạy đua” doanh số để có lương, còn doanh nghiệp bảo hiểm phải “chạy đua” doanh số để giữ thị phần.
Trước tình trạng loạn khai thác bảo hiểm xe máy, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho doanh nghiệp khai thác sản phẩm này, một lãnh đạo doanh nghiệp bảo hiểm nhìn nhận, đã đến lúc các doanh nghiệp nên khoanh vùng rõ hơn về khai thác bảo hiểm cũng như tăng cường hợp tác chia sẻ, tránh kiểu mạnh ai người đó bán. Ở phạm vi doanh nghiệp, cần tạo ra cơ chế một cán bộ, nhân viên bảo hiểm có trách nhiệm khai thác trực tiếp, đồng thời, có trách nhiệm phát triển kênh đại lý, quản lý hướng dẫn đại lý, quản lý hợp đồng đại lý bảo hiểm mang lại, từ đó được hưởng lợi ích trên doanh thu của đại lý. Ngoài ra, cũng cần tạo cơ chế, chính sách cho những đối tác đưa khách hàng tới cho doanh nghiệp bảo hiểm, dù không trực tiếp bán bảo hiểm.
“Với những đối tác là cầu nối để doanh nghiệp bảo hiểm gặp khách hàng, thậm chí tổ chức và chịu chi phí cho các cuộc gặp gỡ, thương thảo mang về hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm, nên chăng, cần có hợp đồng thỏa thuận ghi nhận quyền lợi được hưởng giữa 2 bên là đối tác và doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đó, quyền lợi của đối tác không vượt quá hoa hồng bảo hiểm”, trưởng phòng kinh doanh một doanh nghiệp bảo hiểm đề xuất và cho rằng, cách làm này có thể giúp mang lại doanh số thực chất cho doanh nghiệp bảo hiểm cũng như nhân viên bảo hiểm.
Đông Biển - http://tinnhanhchungkhoan.vn